Ngoài ra, Anthony còn
là phó chủ tịch Technical Committee của NABA-TC (North America Broadcasting
Assosiation) và là đại diện của CBC/Radio-Canada ở WBU-TC (World Broadcasting
UNI0N-Technical Committee). Bài viết này biên tập lại quan điểm của Anthony
Caruso về xu hướng truyền hình di động trong bài báo “Multimedia On Mobile TV –
Content Preparation anh Optimization” xuất bản vào 1/2007 với mục tiêu giới thiệu
một nhận định gần nhất về lĩnh vực truyền hình di động còn nhiều mới mẻ nhưng đầy
triển vọng.
Mobile TV (truyền hình di động) là một xu hướng
cách mạng gắn kết giữa công nghệ di động và nhà sản xuất nội dung chương trình
truyền hình. Mobile TV giúp cho các chương trình truyền hình được phân phối đến
nhiều đối tượng người xem hơn so với lượng
người xem của truyền hình truyền thống. Trong năm 2007, Mobile TV sẽ được thử
nghiệm và triển khai thương mại để cung cấp các chương trình video/audio cho
các thiết bị di động ở nhiều nơi. Tuy nhiên, vẫn còn quá nhiều thách thức cần
phải xét đến như: giới hạn về kích thước hình ảnh (khác với cách xem thông thường),
độ phân giải, tương phản, môi trường xem đa dạng, mức độ thu hút khách hàng di
động…
Mặt khác, nhà cung cấp nội dung cũng gặp những
thách thức khác như: lượng dữ liệu cung cấp như thế nào để nguồn pin dùng cho mạch
xử lý ảnh của thiết bị di động hoạt động tiết kiệm nhất? Cần tạo ra những nội
dung tương tác gì cho đối tượng khách hàng mới này? Cần phải chuẩn bị những qui
trình như thế nào để cung cấp nội dung, cấu trúc xử lý ảnh, cấu trúc phân phối
bên trong? Quá trình cung cấp dịch vụ sẽ được phân chia ra sao giữa nhà sản xuất
chương trình và nhà tập hợp/chuẩn bị nội dung? Việc kết hợp những qui trình này
có thu được hiệu quả cao hơn không?
Ngoài ra, để phân phối nội dung đến thiết bị di động cần
xét đến những thách thức về quản lý tốc độ bit, tổng dung lượng dữ liệu, những
thay đổi xảy ra phụ thuộc vào việc lựa chọn cơ chế phân phối. Rõ ràng, có nhiều
vấn đề cần phải giải quyết khi phát triển Mobile TV. Ở đây, những vấn đề thách
thức về nội dung như quá trình biên soạn, tạo nội dung, các hạn chế, tối ưu… sẽ
được tập trung trình bày.
1.
Giới thiệu.
Sự triển khai, phát triển của Internet
Protocol Television (IPTV), Mobile TV và sự xuất hiện tăng vọt của các trang
web về media (ví dụ: ESPN, Google, Yahoo!, YouTube và Snape) trong thời gian gần
đây, dẫn đến nhu cầu cần chuyển đổi codec nội dung cho phù hợp với việc phân phối
trên băng rộng. Đồng thời, các thiết bị IPTV và mobile nhanh chóng trở thành những
mục tiêu cung cấp dịch vụ quan trọng của các nhà quảng bá và nhà cung cấp dịch
vụ truyền thông.
Một mặt, truyền hình cũng có sự phát triển
nhanh chóng từ analog sang số, từ truyền hình có định dạng phân giải chuẩn (SD)
đến định dạng phân giải cao (HD)… Mặt khác trong thế giới giải trí di động,
iPod của Apple đã mang Mobile TV đến khách hàng với sự đa dạng về định dạng nội
dung và hình thức phân phối. Khách hàng có thể dùng các định dạng MPEG-2,
MPEG-4, H.264, VC-1, Real Media, On2, Flash, DivX, Xvid và nhiều định dạng
codec khác, với nhiều kích thước hiển thị trên phone, PDA, PMT-TV, Set-Top Box,
Laptop hay PC tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng. Với quan điểm “nội dung
là yếu tố quan trọng nhất”, người sử dụng bây giờ được chọn nội dung yêu thích
bất kể lúc nào, bất kể nơi đâu, trên bất kỳ thiết bị nào. Từ đó hình thành nên
thị trường Mobile TV, và để xét đến tiềm lực và hiệu quả của thị trường này cần
xét đến nhiều vấn đề như: chuyển codec trong thời gian thực, khả năng phân phối
theo yêu cầu đến các thiết bị cuối khác nhau của người sử dụng…
2.
Sự thành công của Mobile TV phụ thuộc vào nhiều yếu tố.
Có nhiều quan điểm trong thời gian gầy đây
về tương lai của Mobile TV, và hầu hết cho rằng các chương trình thể thao, tin
tức, hài kịch đã được triển khai trên mạng CDMA phone không thực sự đại điện
cho tương lai của Mobile TV. Có thể thấy rằng, thị trường Mobile TV hoặc dịch vụ
Mobile Media cần phải dựa trên nền phát sóng quảng bá để cung cấp dịch vụ. Để
xem xét kỹ hơn điều này phải chú ý đến khả năng chiếm lĩnh thị trường và khả
năng cung cấp dịch vụ Mobile TV cạnh
tranh đến khác hàng. Nhiều ý kiến cho rằng, nhà cung cấp cần phải phục vụ được
20-30 dịch vụ (kênh) – nếu số dịch vụ kém hơn sẽ không thỏa mãn được nhu cầu của
người xem. Các dịch vụ hiện cung cấp trên mạng 2.5G hoặc 3G đều có thể đạt được
yêu cầu này nhưng chỉ có thể cung cấp dịch vụ trong thời gian nhất định với số
lượng người sử dụng đồng thời nhất định vì việc xem chương trình sẽ chiếm băng
thông của kênh truyền.
Khi xét đến chuỗi cung cấp dịch vụ của
Mobile TV, ý tưởng đưa ra là hình thành các nhà đầu tư cho từng mắt xích trong
chuỗi cung cấp dịch vụ quảng bá. Nhà đầu tư có thể đảm nhiệm một trong những
nhiệm vụ như: người sản xuất, tập hợp, xuất bản hoặc là nhà cung cấp mạng và
góp phần tạo ra các giá trị cộng thêm. Hơn nữa, thị trường cho Mobile TV còn rất
nhỏ lẻ, cần nhiều mô hình kinh doanh khác nhau khi hướng đến việc triển khai thương
mại trong thời gian dài. Hơn nữa, để phát triển một mô hình kinh doanh thực tế
cho Mobile TV cần xét đến sự cân bằng giữa việc đầu tư và thu hồi vốn. Điều này
không là vấn đề đơn giản khi xét đến những yếu tố liên quan khác như: quản lý/cấp
phát phổ, thiết bị cuối… Với những kinh nghiệm trong quá khứ về việc triển khai
kỹ thuật và dịch vụ, chúng ta có thể thấy rằng kỹ thuật không thực sự là vấn đề
quan trọng nhất, vì khách hàng không mua kỹ thuật mà mua dịch vụ.
3.
Mobile TV trên nền quảng bá.
DVB-H là chuẩn quan trọng của Mobile TV
trên nền quảng bá có mô hình kinh doanh tiềm năng và thực tế. Kỹ thuật này dựa
trên việc phát sóng quảng bá các chương trình truyền hình, nghĩa là các chương
trình truyền hình không chiếm băng thông của mạng truyền thông, nó truyền tải dữ
liệu media trong mạng phát sóng quảng bá.
DVB-H được đưa ra bởi ETSI (European
Telecommunications Standards Institude) vào tháng 11/2004 và được phát triển ở
Châu Âu và Châu Á. Hệ thống DVB-H có thể cung cấp nội dung với tốc độ lên đến
5Mbps trong băng thông 6MHz, có hiệu quả sử dụng phổ tốt trong mode điều chế
cao (ví dụ :16 và 64 QAM).
Trong năm 2006, các công ty tiên phong
trong thị trường mobile đã kết hợp với nhau để thành lập liên minh MDTV (Mobile
Digital Television Allience) nhằm đẩy mạnh sự phát triển của chuẩn DVB-H
(Digital Video Broadcast Handheld) ở Mỹ. Những công ty này bao gồm: Texas
Instruments, Nokia, Motorola, Intel, Modeo; sau này Microsoft cũng tham gia vào
liên minh như thành viên sáng lập.
Hiệp hội DTV Alliance có hai mục đích
chính. Mục đích thứ nhất là thúc đẩy DVB-H như là một chuẩn ở Mỹ. Mục đích thứ
hai là tạo ra cộng đồng liên hoạt xung quanh DVB-H. Liên minh hy vọng sẽ đưa ra
được những qui ước quan trọng để tăng tốc sự phát triển chuẩn DVB-H ở Mỹ. Cách
thức thực hiện là thông qua một cấu trúc, qui định chuẩn nhằm đảm bảo các thiết
bị của những nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ khác nhau tương thích với
nhau. Hiệp hội DTV Alliance sẽ đưa ra chương trình liên hoạt cho các sản phẩm được
chứng nhận. Điều này đảm bảo rằng các sản phẩm từ những nhà quảng bá khác nhau
đến những thiết bị cuối khác nhau sẽ “hiểu” lẫn nhau, giúp giảm rủi ro cho nhà
quảng bá/nhà đầu tư.
Thực ra, DVB-H không nhắm đến mục tiêu trở
thành chuẩn nổi trội ở Mỹ, mà chỉ là chuẩn kỹ thuật sẵn sàng cạnh tranh bên cạnh
các chuẩn khác. Một chuẩn khác của Qualcomm đề xuất là MediaFlow cũng hướng đến
thị trường Mobile ở Mỹ. Đây cũng là chuẩn cung cấp dịch vụ Mobile TV trên nền
quảng bá. Qualcomm đã sản xuất chip và cung cấp những thành phần lõi cho nhiều
thiết bị để phục vụ cho chuẩn của họ.
4.
Biên soạn nội dung.
Nhu cầu nghe xem của khách hàng ngày càng
phát triển. Một trong những nhu cầu đó của khách hàng là nhu cầu nghe xem trên
bất kỳ thiết bị, ở bất kỳ nơi đâu và bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, với nhà quảng
bá và nhà phân phối, đó là cơn ác mộng về sự không tương thích của thiết bị,
các phiên bản nội dung không hạn chế, sự kết hợp không giới hạn của các khả
năng và sự phát triển phức tạp của khả năng liên hoạt.
Việc biên soạn nội dung để phù hợp với các
thiết bị di động lại gặp thách thức về đảm bảo sự tương tự thói quen sử dụng của
người xem. Có nhiều phương pháp để đơn giản những vấn đề này. Khi chưa chuẩn
hóa, người ta chọn một tập chung các thông số có tính khái quát cho thiết bị
trên một cơ sở nền cho tất cả nội dung. Mặc dù, đây là cách tốt nhất để nhanh
chóng thực hiện, nhưng các nhà quảng bá không tán thành vì điều này sẽ giới hạn
các ưu thế cạnh tranh của các kỹ thuật phát triển sau này. Nói cách khác, khách
hàng sẽ không thể thấp nhận xem với chất lượng phân giải thấp mãi được.
Tất cả ý kiến khác lại gây áp lực đến nhà
quảng bá đòi hỏi phải tạo ra nhiều phiên bản của cùng một nội dung. Do đó, nhà
quảng bá buộc phải có một hệ thống quản lý tài nguyên MAM (Media Asset
Management System) để có thể mô tả được mỗi phiên bản nội dung, và xử lý được một
tập các thông số tối thiểu như: cơ chế nén, tốc độ bit, tốc độ frame, độ phân
giải, đặc tính hiển thị mong muốn… Điều này sẽ cần thêm các thông tin metadata
và các thông số mã hóa như đặc tính hiển thị, hướng xử lý. Về phần mình, các
nhà quảng bá sẽ không lưu trữ một tập cố định các chuẩn ảnh để cung cấp dịch vụ
cho các thiết bị di động mới, thay vào đó, họ chỉ lưu duy nhất một phiên bản của
cùng nội dung sẽ được tạo ra các phiên bản khác nhau theo mỗi yêu cầu của người
xem.
Việc xuất hiện ngày càng nhiều lọai thiết bị
nghe xem đã gia tăng sự phức tạp cho quá trình biên soạn nội dung, đồng thời tạo
ra thói quen xem nội dung mới cho khách hàng là chuyển từ xem thụ động đến xem
tương tác. Các thiết bị di động sẽ cho phép nhiều mức tương tác đến chương
trình như: dịch thời gian (time-shifting), chơi đố (trick mode), mua bán
online, chỉnh sửa/chia xẻ nội dung,… Có thể thấy với những đặc điểm cộng thêm
này, các nhà quảng bá phải thay đổi hoạt động của họ để đáp ứng được nhu cầu
khách hàng. Các nhà quản lý hoạt động quảng bá sẽ phải cải tiến đội ngũ kỹ thuật
để đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, và dịch vụ của họ phải
hỗ trợ nhiều loại thiết bị khác nhau.
5.
Xu hướng cung cấp dịch vụ kết hợp.
Trong “ma trận” của xu hướng cung cấp dịch
vụ kết hợp nhiều loại nội dung, nhiều nhu cầu khách hàng và để đảm bảo kết nối
end-to-end, các nhà quảng bá đã phải từng bước thử nghiệm và tìm hướng đi cho
việc cung cấp dịch vụ của họ. Sự phức tạp của “ma trận” này không chỉ về yêu cầu
tương thích nội dung tạo ra với thiết bị của người sử dụng, mà còn phải đảm bảo
sự liên hoạt middleware ở các mắc xích khác nhau của chuỗi cung cấp dịch vụ quảng
bá. Sơ đồ trong hình 1 cho một cái nhìn tổng quát về “ma trận” kết hợp giữa các
loại nội dung, mạng, truyền dẫn, thiết bị di động, media, các chuẩn giao diện
yêu cầu.
Hiện nay, các nhà quảng bá và các công ty
di động đang cung cấp dịch vụ với nhiều chuẩn nén, mã hóa (encryption), truyền
dẫn, và các chuẩn khác, đã tìm cách cung cấp dịch vụ linh hoạt hơn với mục tiêu
truyền tải được nội dung của họ đến được nhiều thiết bị yêu cầu hơn.
Mỗi nội dung phân phối thành công đến thiết
bị di động, nó sẽ qua các quá trình xử lý thêm cần thiết như: giải nén, tách
gói (de-packetizing), giải mã (decryption), và định dạng lại ảnh cho phù hợp với
đặc tính hiển thị của thiết bị.
Thêm nữa, những thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến
hiệu quả và chất lượng đối với người xem như:
• Cấu trúc ảnh được hiển thị: gồm số pixel
theo chiều ngang và chiều dọc, tỉ lệ khung hình, thang độ xám, màu gốc…
• Tốc độ frame trung bình trên giây và khả
năng play trơn (smoothing) video khi cắt bớt frame.
• Mức tiêu thụ nguồn ảnh hưởng đến thời gian
xem.
• Khả năng hỗ trợ cấu trúc ảnh lớn hơn màn
hình hiển thị thông qua các chức năng pan, scan.
• Hiển thị text kết hợp (khích thước font tối
thiểu, mất thông tin text do cắt bỏ kích thước (cropping))
• Thay đổi ngầm kênh và nội dung
• Cường độ sáng của môi trường người sử dụng.
Hiện nay, không có chuẩn phục vụ cho sự
thay đổi của những thông số này, điều này gây nhiều khó khăn cho nhà quảng bá
và nhà điều hành mạng.
6.
Quản lý luồng nội dung (CONTENT WORKFLOW).
Việc biên sọan và trình diễn nội dung với
media truyền thống đã được thực hiện hoàn hảo, qua nhiều năm đến các thiết bị
thu theo chuẩn đã công bố. Ví dụ, SD và HD đã xác định số lượng pixel ảnh và tốc
độ frame chuẩn. Tuy nhiên, việc biên soạn và trình diễn nội dung cho thiết bị
di động vẫn còn mới mẻ và thiếu những qui định chuẩn đối với những thiết bị thu
hiện tại và sẽ xuất hiện trong thời gian tới.
Qui trình mới cho việc trình diễn nội dung
trên thiết bị di động có thể sẽ được thực thi gần với qui trình biên soạn nội
dung cho dịch vụ VoD (Video On Demand). Nội dung sẽ được đưa vào hệ thống quản
lý tài nguyên, mã hóa với một tập các thông số, chất lượng sẽ được điều khiển
theo người chủ nội dung và truyền đến khách hàng dưới dạng file số. Mặc dù, qui
trình này có vẻ phù hợp với Mobile TV, nhưng những thay đổi từ thiết bị của người
sử dụng có thể dẫn đến một số thông số khác biệt ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch
vụ.
Để đảm bảo video được playout trơn tru, cần
chú ý đến giới hạn của thiết bị di động. Các nhà quảng bá đã và đang phát triển
những cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn của thiết bị thông qua nhiều thử nghiệm thực
tế để tạo ra tập tối ưu các thông số. Do đó, các nhân tố như kích thước bộ nhớ
đệm, công suất tính toán, độ nét đường biên, dò tương phản tự động, phần cứng
giải mã,… sẽ là những nhân tố góp phần tạo nên sự trình diễn video trơn tru.
Các qui trình hiện nay đã tạo ra những yêu cầu riêng cho nội dung ở các chuẩn
như film, NTSC/PAL, DTV, DVD… Tuy
nhiên, với Mobile TV sẽ cần nhiều đòi hỏi hơn nữa vì môi trường xem sẽ đa dạng
hơn nhiều.
Một quan tâm khác cho thiết bị di động là
giới hạn về kích thước màn hình và độ phân giải tối đa khó minh họa sinh động
những cảnh yêu cầu mức độ chi tiết cao, ở nhiều góc độ của cảnh. Hệ thống hiện
nay có thể điều chỉnh pan và scan các ảnh màn ảnh rộng để cho phép chúng play ở
tỉ lệ thích hợp của màn hình để giữ được thông tin ảnh. Phương pháp pan và scan
cho việc trình diễn nội dung của thiết bị di động sẽ gặp một số vần đề do tốc độ
làm tươi ảnh chậm, xảy ra hiệu ứng khối do mức độ nén cao quá mới trong quá
trình xử lý pan.
7.
Kết luận.
Các nhà sản xuất thiết bị cơ động và điện
thoại di động đã sẵn sàng đầu tư vì trong tương lai việc phân phối video sẽ là
phần bổ sung quan trọng vào các dịch vụ thoại. Thế hệ kế tiếp của thiết bị thoại
sẽ là nâng cao độ phân giải về không gian, gia tăng tốc độ frame giúp chuyển động
video trơn hơn, gia tăng bộ nhớ và dung lượng lưu trữ để hỗ trợ ở mức độ hiệu
quả cao hơn. Điều này giúp các tiêu chuẩn cho Mobile TV có thể tiếp cận với các
tiêu chuẩn phân phối video truyền thống. Trong khi chờ đợi đến lúc đó, công nghệ
quảng bá sẽ phải đương đầu với những thay đổi lớn trong môi trường di động.
Sự tự do mới trong việc xem TV bất kể nơi
nào ở bất kỳ lúc nào đưa chúng ta vào kỷ nguyên kế tiếp của thế giới ảnh động,
nơi mà những phương pháp mới về sản xuất, đóng gói, quản lý, khảo sát nội dung
cần phải được thay đổi, phát triển để có thễ giải quyết được những thách thức mới
này.
Tài liệu tham khảo.
Anthony Caruso,
“Multimedia on Mobile Tv – Content Preparation and Optimization”, CBC
Technology Review, 1/2007.
Nguyễn Đức Hoàng/
Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Truyền Hình