Một nhận định về truyền hình di động
Thứ sáu, 29/1/2010, 2:12(GMT+7)
  •  

Ngoài ra, Anthony còn là phó chủ tịch Technical Committee của NABA-TC (North America Broadcasting Assosiation) và là đại diện của CBC/Radio-Canada ở WBU-TC (World Broadcasting UNI0N-Technical Committee). Bài viết này biên tập lại quan điểm của Anthony Caruso về xu hướng truyền hình di động trong bài báo “Multimedia On Mobile TV – Content Preparation anh Optimization” xuất bản vào 1/2007 với mục tiêu giới thiệu một nhận định gần nhất về lĩnh vực truyền hình di động còn nhiều mới mẻ nhưng đầy triển vọng.

 

    Mobile TV (truyền hình di động) là một xu hướng cách mạng gắn kết giữa công nghệ di động và nhà sản xuất nội dung chương trình truyền hình. Mobile TV giúp cho các chương trình truyền hình được phân phối đến nhiều đối tượng người xem hơn so với  lượng người xem của truyền hình truyền thống. Trong năm 2007, Mobile TV sẽ được thử nghiệm và triển khai thương mại để cung cấp các chương trình video/audio cho các thiết bị di động ở nhiều nơi. Tuy nhiên, vẫn còn quá nhiều thách thức cần phải xét đến như: giới hạn về kích thước hình ảnh (khác với cách xem thông thường), độ phân giải, tương phản, môi trường xem đa dạng, mức độ thu hút khách hàng di động…

    Mặt khác, nhà cung cấp nội dung cũng gặp những thách thức khác như: lượng dữ liệu cung cấp như thế nào để nguồn pin dùng cho mạch xử lý ảnh của thiết bị di động hoạt động tiết kiệm nhất? Cần tạo ra những nội dung tương tác gì cho đối tượng khách hàng mới này? Cần phải chuẩn bị những qui trình như thế nào để cung cấp nội dung, cấu trúc xử lý ảnh, cấu trúc phân phối bên trong? Quá trình cung cấp dịch vụ sẽ được phân chia ra sao giữa nhà sản xuất chương trình và nhà tập hợp/chuẩn bị nội dung? Việc kết hợp những qui trình này có thu được hiệu quả cao hơn không?

    Ngoài ra, để  phân phối nội dung đến thiết bị di động cần xét đến những thách thức về quản lý tốc độ bit, tổng dung lượng dữ liệu, những thay đổi xảy ra phụ thuộc vào việc lựa chọn cơ chế phân phối. Rõ ràng, có nhiều vấn đề cần phải giải quyết khi phát triển Mobile TV. Ở đây, những vấn đề thách thức về nội dung như quá trình biên soạn, tạo nội dung, các hạn chế, tối ưu… sẽ được tập trung trình bày.

 

1. Giới thiệu.

 

    Sự triển khai, phát triển của Internet Protocol Television (IPTV), Mobile TV và sự xuất hiện tăng vọt của các trang web về media (ví dụ: ESPN, Google, Yahoo!, YouTube và Snape) trong thời gian gần đây, dẫn đến nhu cầu cần chuyển đổi codec nội dung cho phù hợp với việc phân phối trên băng rộng. Đồng thời, các thiết bị IPTV và mobile nhanh chóng trở thành những mục tiêu cung cấp dịch vụ quan trọng của các nhà quảng bá và nhà cung cấp dịch vụ truyền thông.

    Một mặt, truyền hình cũng có sự phát triển nhanh chóng từ analog sang số, từ truyền hình có định dạng phân giải chuẩn (SD) đến định dạng phân giải cao (HD)… Mặt khác trong thế giới giải trí di động, iPod của Apple đã mang Mobile TV đến khách hàng với sự đa dạng về định dạng nội dung và hình thức phân phối. Khách hàng có thể dùng các định dạng MPEG-2, MPEG-4, H.264, VC-1, Real Media, On2, Flash, DivX, Xvid và nhiều định dạng codec khác, với nhiều kích thước hiển thị trên phone, PDA, PMT-TV, Set-Top Box, Laptop hay PC tùy thuộc vào nhu cầu của người sử dụng. Với quan điểm “nội dung là yếu tố quan trọng nhất”, người sử dụng bây giờ được chọn nội dung yêu thích bất kể lúc nào, bất kể nơi đâu, trên bất kỳ thiết bị nào. Từ đó hình thành nên thị trường Mobile TV, và để xét đến tiềm lực và hiệu quả của thị trường này cần xét đến nhiều vấn đề như: chuyển codec trong thời gian thực, khả năng phân phối theo yêu cầu đến các thiết bị cuối khác nhau của người sử dụng…

 

2. Sự thành công của Mobile TV phụ thuộc vào nhiều yếu tố.

 

    Có nhiều quan điểm trong thời gian gầy đây về tương lai của Mobile TV, và hầu hết cho rằng các chương trình thể thao, tin tức, hài kịch đã được triển khai trên mạng CDMA phone không thực sự đại điện cho tương lai của Mobile TV. Có thể thấy rằng, thị trường Mobile TV hoặc dịch vụ Mobile Media cần phải dựa trên nền phát sóng quảng bá để cung cấp dịch vụ. Để xem xét kỹ hơn điều này phải chú ý đến khả năng chiếm lĩnh thị trường và khả năng cung cấp dịch vụ Mobile TV  cạnh tranh đến khác hàng. Nhiều ý kiến cho rằng, nhà cung cấp cần phải phục vụ được 20-30 dịch vụ (kênh) – nếu số dịch vụ kém hơn sẽ không thỏa mãn được nhu cầu của người xem. Các dịch vụ hiện cung cấp trên mạng 2.5G hoặc 3G đều có thể đạt được yêu cầu này nhưng chỉ có thể cung cấp dịch vụ trong thời gian nhất định với số lượng người sử dụng đồng thời nhất định vì việc xem chương trình sẽ chiếm băng thông của kênh truyền.

    Khi xét đến chuỗi cung cấp dịch vụ của Mobile TV, ý tưởng đưa ra là hình thành các nhà đầu tư cho từng mắt xích trong chuỗi cung cấp dịch vụ quảng bá. Nhà đầu tư có thể đảm nhiệm một trong những nhiệm vụ như: người sản xuất, tập hợp, xuất bản hoặc là nhà cung cấp mạng và góp phần tạo ra các giá trị cộng thêm. Hơn nữa, thị trường cho Mobile TV còn rất nhỏ lẻ, cần nhiều mô hình kinh doanh khác nhau khi hướng đến việc triển khai thương mại trong thời gian dài. Hơn nữa, để phát triển một mô hình kinh doanh thực tế cho Mobile TV cần xét đến sự cân bằng giữa việc đầu tư và thu hồi vốn. Điều này không là vấn đề đơn giản khi xét đến những yếu tố liên quan khác như: quản lý/cấp phát phổ, thiết bị cuối… Với những kinh nghiệm trong quá khứ về việc triển khai kỹ thuật và dịch vụ, chúng ta có thể thấy rằng kỹ thuật không thực sự là vấn đề quan trọng nhất, vì khách hàng không mua kỹ thuật mà mua dịch vụ.

 

3. Mobile TV trên nền quảng bá.

 

    DVB-H là chuẩn quan trọng của Mobile TV trên nền quảng bá có mô hình kinh doanh tiềm năng và thực tế. Kỹ thuật này dựa trên việc phát sóng quảng bá các chương trình truyền hình, nghĩa là các chương trình truyền hình không chiếm băng thông của mạng truyền thông, nó truyền tải dữ liệu media trong mạng phát sóng quảng bá.

    DVB-H được đưa ra bởi ETSI (European Telecommunications Standards Institude) vào tháng 11/2004 và được phát triển ở Châu Âu và Châu Á. Hệ thống DVB-H có thể cung cấp nội dung với tốc độ lên đến 5Mbps trong băng thông 6MHz, có hiệu quả sử dụng phổ tốt trong mode điều chế cao (ví dụ :16 và 64 QAM).

    Trong năm 2006, các công ty tiên phong trong thị trường mobile đã kết hợp với nhau để thành lập liên minh MDTV (Mobile Digital Television Allience) nhằm đẩy mạnh sự phát triển của chuẩn DVB-H (Digital Video Broadcast Handheld) ở Mỹ. Những công ty này bao gồm: Texas Instruments, Nokia, Motorola, Intel, Modeo; sau này Microsoft cũng tham gia vào liên minh như thành viên sáng lập.

    Hiệp hội DTV Alliance có hai mục đích chính. Mục đích thứ nhất là thúc đẩy DVB-H như là một chuẩn ở Mỹ. Mục đích thứ hai là tạo ra cộng đồng liên hoạt xung quanh DVB-H. Liên minh hy vọng sẽ đưa ra được những qui ước quan trọng để tăng tốc sự phát triển chuẩn DVB-H ở Mỹ. Cách thức thực hiện là thông qua một cấu trúc, qui định chuẩn nhằm đảm bảo các thiết bị của những nhà sản xuất và nhà cung cấp dịch vụ khác nhau tương thích với nhau. Hiệp hội DTV Alliance sẽ đưa ra chương trình liên hoạt cho các sản phẩm được chứng nhận. Điều này đảm bảo rằng các sản phẩm từ những nhà quảng bá khác nhau đến những thiết bị cuối khác nhau sẽ “hiểu” lẫn nhau, giúp giảm rủi ro cho nhà quảng bá/nhà đầu tư.

    Thực ra, DVB-H không nhắm đến mục tiêu trở thành chuẩn nổi trội ở Mỹ, mà chỉ là chuẩn kỹ thuật sẵn sàng cạnh tranh bên cạnh các chuẩn khác. Một chuẩn khác của Qualcomm đề xuất là MediaFlow cũng hướng đến thị trường Mobile ở Mỹ. Đây cũng là chuẩn cung cấp dịch vụ Mobile TV trên nền quảng bá. Qualcomm đã sản xuất chip và cung cấp những thành phần lõi cho nhiều thiết bị để phục vụ cho chuẩn của họ.

 

4. Biên soạn nội dung.

 

    Nhu cầu nghe xem của khách hàng ngày càng phát triển. Một trong những nhu cầu đó của khách hàng là nhu cầu nghe xem trên bất kỳ thiết bị, ở bất kỳ nơi đâu và bất kỳ lúc nào. Tuy nhiên, với nhà quảng bá và nhà phân phối, đó là cơn ác mộng về sự không tương thích của thiết bị, các phiên bản nội dung không hạn chế, sự kết hợp không giới hạn của các khả năng và sự phát triển phức tạp của khả năng liên hoạt.

    Việc biên soạn nội dung để phù hợp với các thiết bị di động lại gặp thách thức về đảm bảo sự tương tự thói quen sử dụng của người xem. Có nhiều phương pháp để đơn giản những vấn đề này. Khi chưa chuẩn hóa, người ta chọn một tập chung các thông số có tính khái quát cho thiết bị trên một cơ sở nền cho tất cả nội dung. Mặc dù, đây là cách tốt nhất để nhanh chóng thực hiện, nhưng các nhà quảng bá không tán thành vì điều này sẽ giới hạn các ưu thế cạnh tranh của các kỹ thuật phát triển sau này. Nói cách khác, khách hàng sẽ không thể thấp nhận xem với chất lượng phân giải thấp mãi được.

    Tất cả ý kiến khác lại gây áp lực đến nhà quảng bá đòi hỏi phải tạo ra nhiều phiên bản của cùng một nội dung. Do đó, nhà quảng bá buộc phải có một hệ thống quản lý tài nguyên MAM (Media Asset Management System) để có thể mô tả được mỗi phiên bản nội dung, và xử lý được một tập các thông số tối thiểu như: cơ chế nén, tốc độ bit, tốc độ frame, độ phân giải, đặc tính hiển thị mong muốn… Điều này sẽ cần thêm các thông tin metadata và các thông số mã hóa như đặc tính hiển thị, hướng xử lý. Về phần mình, các nhà quảng bá sẽ không lưu trữ một tập cố định các chuẩn ảnh để cung cấp dịch vụ cho các thiết bị di động mới, thay vào đó, họ chỉ lưu duy nhất một phiên bản của cùng nội dung sẽ được tạo ra các phiên bản khác nhau theo mỗi yêu cầu của người xem.

    Việc xuất hiện ngày càng nhiều lọai thiết bị nghe xem đã gia tăng sự phức tạp cho quá trình biên soạn nội dung, đồng thời tạo ra thói quen xem nội dung mới cho khách hàng là chuyển từ xem thụ động đến xem tương tác. Các thiết bị di động sẽ cho phép nhiều mức tương tác đến chương trình như: dịch thời gian (time-shifting), chơi đố (trick mode), mua bán online, chỉnh sửa/chia xẻ nội dung,… Có thể thấy với những đặc điểm cộng thêm này, các nhà quảng bá phải thay đổi hoạt động của họ để đáp ứng được nhu cầu khách hàng. Các nhà quản lý hoạt động quảng bá sẽ phải cải tiến đội ngũ kỹ thuật để đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng, và dịch vụ của họ phải hỗ trợ nhiều loại thiết bị khác nhau.

 

5. Xu hướng cung cấp dịch vụ kết hợp.

 

    Trong “ma trận” của xu hướng cung cấp dịch vụ kết hợp nhiều loại nội dung, nhiều nhu cầu khách hàng và để đảm bảo kết nối end-to-end, các nhà quảng bá đã phải từng bước thử nghiệm và tìm hướng đi cho việc cung cấp dịch vụ của họ. Sự phức tạp của “ma trận” này không chỉ về yêu cầu tương thích nội dung tạo ra với thiết bị của người sử dụng, mà còn phải đảm bảo sự liên hoạt middleware ở các mắc xích khác nhau của chuỗi cung cấp dịch vụ quảng bá. Sơ đồ trong hình 1 cho một cái nhìn tổng quát về “ma trận” kết hợp giữa các loại nội dung, mạng, truyền dẫn, thiết bị di động, media, các chuẩn giao diện yêu cầu.

 


    Hiện nay, các nhà quảng bá và các công ty di động đang cung cấp dịch vụ với nhiều chuẩn nén, mã hóa (encryption), truyền dẫn, và các chuẩn khác, đã tìm cách cung cấp dịch vụ linh hoạt hơn với mục tiêu truyền tải được nội dung của họ đến được nhiều thiết bị yêu cầu hơn.

    Mỗi nội dung phân phối thành công đến thiết bị di động, nó sẽ qua các quá trình xử lý thêm cần thiết như: giải nén, tách gói (de-packetizing), giải mã (decryption), và định dạng lại ảnh cho phù hợp với đặc tính hiển thị của thiết bị.

    Thêm nữa, những thay đổi này sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng đối với người xem như:

 

    Cấu trúc ảnh được hiển thị: gồm số pixel theo chiều ngang và chiều dọc, tỉ lệ khung hình, thang độ xám, màu gốc…

    Tốc độ frame trung bình trên giây và khả năng play trơn (smoothing) video khi cắt bớt frame.

    Mức tiêu thụ nguồn ảnh hưởng đến thời gian xem.

    Khả năng hỗ trợ cấu trúc ảnh lớn hơn màn hình hiển thị thông qua các chức năng pan, scan.

    Hiển thị text kết hợp (khích thước font tối thiểu, mất thông tin text do cắt bỏ kích thước (cropping))

    Thay đổi ngầm kênh và nội dung

    Cường độ sáng của môi trường người sử dụng.

 

    Hiện nay, không có chuẩn phục vụ cho sự thay đổi của những thông số này, điều này gây nhiều khó khăn cho nhà quảng bá và nhà điều hành mạng.

 

6. Quản lý luồng nội dung (CONTENT WORKFLOW).

 

    Việc biên sọan và trình diễn nội dung với media truyền thống đã được thực hiện hoàn hảo, qua nhiều năm đến các thiết bị thu theo chuẩn đã công bố. Ví dụ, SD và HD đã xác định số lượng pixel ảnh và tốc độ frame chuẩn. Tuy nhiên, việc biên soạn và trình diễn nội dung cho thiết bị di động vẫn còn mới mẻ và thiếu những qui định chuẩn đối với những thiết bị thu hiện tại và sẽ xuất hiện trong thời gian tới.

    Qui trình mới cho việc trình diễn nội dung trên thiết bị di động có thể sẽ được thực thi gần với qui trình biên soạn nội dung cho dịch vụ VoD (Video On Demand). Nội dung sẽ được đưa vào hệ thống quản lý tài nguyên, mã hóa với một tập các thông số, chất lượng sẽ được điều khiển theo người chủ nội dung và truyền đến khách hàng dưới dạng file số. Mặc dù, qui trình này có vẻ phù hợp với Mobile TV, nhưng những thay đổi từ thiết bị của người sử dụng có thể dẫn đến một số thông số khác biệt ảnh hưởng đến việc cung cấp dịch vụ.

    Để đảm bảo video được playout trơn tru, cần chú ý đến giới hạn của thiết bị di động. Các nhà quảng bá đã và đang phát triển những cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn của thiết bị thông qua nhiều thử nghiệm thực tế để tạo ra tập tối ưu các thông số. Do đó, các nhân tố như kích thước bộ nhớ đệm, công suất tính toán, độ nét đường biên, dò tương phản tự động, phần cứng giải mã,… sẽ là những nhân tố góp phần tạo nên sự trình diễn video trơn tru. Các qui trình hiện nay đã tạo ra những yêu cầu riêng cho nội dung ở các chuẩn như film, NTSC/PAL, DTV, DVD…     Tuy nhiên, với Mobile TV sẽ cần nhiều đòi hỏi hơn nữa vì môi trường xem sẽ đa dạng hơn nhiều.

    Một quan tâm khác cho thiết bị di động là giới hạn về kích thước màn hình và độ phân giải tối đa khó minh họa sinh động những cảnh yêu cầu mức độ chi tiết cao, ở nhiều góc độ của cảnh. Hệ thống hiện nay có thể điều chỉnh pan và scan các ảnh màn ảnh rộng để cho phép chúng play ở tỉ lệ thích hợp của màn hình để giữ được thông tin ảnh. Phương pháp pan và scan cho việc trình diễn nội dung của thiết bị di động sẽ gặp một số vần đề do tốc độ làm tươi ảnh chậm, xảy ra hiệu ứng khối do mức độ nén cao quá mới trong quá trình xử lý pan.

 

7. Kết luận.

 

    Các nhà sản xuất thiết bị cơ động và điện thoại di động đã sẵn sàng đầu tư vì trong tương lai việc phân phối video sẽ là phần bổ sung quan trọng vào các dịch vụ thoại. Thế hệ kế tiếp của thiết bị thoại sẽ là nâng cao độ phân giải về không gian, gia tăng tốc độ frame giúp chuyển động video trơn hơn, gia tăng bộ nhớ và dung lượng lưu trữ để hỗ trợ ở mức độ hiệu quả cao hơn. Điều này giúp các tiêu chuẩn cho Mobile TV có thể tiếp cận với các tiêu chuẩn phân phối video truyền thống. Trong khi chờ đợi đến lúc đó, công nghệ quảng bá sẽ phải đương đầu với những thay đổi lớn trong môi trường di động.

    Sự tự do mới trong việc xem TV bất kể nơi nào ở bất kỳ lúc nào đưa chúng ta vào kỷ nguyên kế tiếp của thế giới ảnh động, nơi mà những phương pháp mới về sản xuất, đóng gói, quản lý, khảo sát nội dung cần phải được thay đổi, phát triển để có thễ giải quyết được những thách thức mới này.

 

Tài liệu tham khảo.

 Anthony Caruso, “Multimedia on Mobile Tv – Content Preparation and Optimization”, CBC Technology Review, 1/2007.

Nguyễn Đức Hoàng/ Tạp chí Khoa Học Kỹ Thuật Truyền Hình


 

Thời tiết

Tỉ giá ngoại tệ